X

Soạn bài – Ca dao hài hước

Soạn bài Ca dao hài hước trang 90 – 92 SGK ngữ văn lớp 10 tập 1. Để học tốt hơn danh sách các bài tập trong bài Ca dao hài hước, sau đây là hướng dẫn soạn bài và giải bài tập đầy đủ, ngắn gọn và chi tiết nhất.

Cưới nàng, anh toan dẫn (1) voi,
Anh sợ quốc cấm (2), nên voi không bàn
Dẫn trâu, sợ họ máu hàn,
Miễn là có thú bốn chân
Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng
– Chàng dẫn thế, em lấy làm sang,
Nỡ nào em lại phá ngang như là…
Người ta thách (4) lợn, thách gà,
Nhà em thách cưới một nhà khoai lang
Củ to thì để mời làng,
Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.
Bao nhiêu củ mẻ, chàng ơi!
Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà;
Bao nhiêu củ tím, củ hà (5),
Để cho con lợn, con gà nó ăn…
Làm trai cho đáng sức trai,
Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng.
Chồng người đi ngược về xuôi
Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo.
Lỗ mũi mười tám gánh lông.
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho.
Đêm nằm thì ngáy o o …
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà.
Chông yêu chông bảo về nhà đỡ cơm.
Trên đầu những rác cùng rơm,
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu!

CHÚ THÍCH

(1) Dẫn: dẫn cưới (nhà trai đem lễ vật đến nộp cho nhà gái)

(2) Quốc cấm: thứ bị nhà nước cấm dùng, cấm mua bán.

(3) Máu hàn: (hàn: lạnh) máu lạnh; theo quan niệm dân gian, thịt trâu thuộc loại thức ăn “lạnh”, người có “máu hàn: ăn dễ đau bụng.

(4) Thách : thách cưới, yêu cầu của nhà gái đối với nhà trai về tiền cưới và lễ vật (thường là đòi quá cao nên dùng chữ thách). Ngày nay, việc thách cưới (và dẫn cưới) không còn nặng nề như xưa mà chỉ là thủ tục để ghi nhận ngày vui, sự gắn bó giữa hai họ.

(5) Củ rím: khoai lang bị úng nước, bên trong thâm thối. Củ hà: củ khoai bị con hà, một loại sâu cánh cứng, kí sinh trong đó, là cho khoai hỏng.

Hướng dẫn soạn bài – Ca dao hài hước

I. Bố cục:

– Nhóm tiếng cười tự trào: bài số 1.

– Nhóm tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội: các bài 2, 3, 4.

II. Hướng dẫn soạn bài Ca dao hài hước chi tiết.

Giải câu 1 (Trang 91 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Bài 1: Đây là lời đối đáp vui đùa của nam nữ thường thấy trong ca dao. Nó đem đến cho ta một tiếng cười mang ý nghĩ nhân sinh sâu sắc. Hãy đọc kĩ bài ca dao và cho biết:

– Việc dẫn cưới và thách cưới ở đây có gì khác thường? Cách nói của chàng trai và cô gái có gì đặc biệt? Từ đó, anh (chị) hãy nên cảm nhận của mình về tiếng cười của người lao động trong cảnh nghèo. (Đây là tiếng cười về điều gì, cười ai? Tiếng cười đó có ý nghĩa như thế nào?)

– Bài ca dao có giọng điệu hài hước dí dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tố nghệ thuật nào?

Trả lời:

Thực ra nó là hai màn tự trào về cảnh nghèo của người lao động.

– Lời của chàng trai: Để cưới nàng, chàng trai đã có những dự định thật to tát. Chàng muốn có một đám cưới linh đình nhưng vì những lí do khách quan nên những dự định của chàng không thực hiện.

Muốn dẫn voi –> sợ quốc cấm
Muốn dẫn trâu –> sợ họ máu hàn
Muốn dẫn bò –> sợ họ nhà nàng co gân.

Khôn phải là chàng không muốn làm cho nhà gái nở mày nở mặt bằng một lễ vật sang trọng mà là vì chàng lo lắng, quan tâm tới sức khỏe của họ. Cuối cùng, chàng quyết định:

“Miễn là có thú bốn chân
Dẫn con chuột béo, mời dân mời làng”
Lí lẽ của chàng trai thật thông minh, cũng thật hóm hỉnh, đáng yêu.

Lời đáp của cô gái cũng… chẳng vừa. Thách cưới mà lại thách “một nhà khoai lang” thì dễ đấy nhưng cũng có khác nào làm khó người ta. Song điều quan trọng không phải ở điểm này mà là ở chỗ cô gái hiểu “hoàn cảnh” của nhà em và nhà anh… cũng giống nhau thôi. Và như thế đám cưới chỉ cần một “nhà khoai lang” là cũng quá đủ rồi.

Qua lời thách cưới và lời dẫn cưới, chúng ta có thể thấy ở đây người nông dân đã mang cái nghèo của chính mình ra để mà đùa cợt. Tiếng cời ấy hướng vào chính họ nhưng cũng là để cho họ quên đi cảnh khổ mà lạc quan yêu đời và ham sống hơn.

Bài ca dao có giọng hài hước dí dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tố nghệ thuật:

– Lối nói khoa trương phóng đại: dẫn voi, trâu, bò, nhà khoai lang…

– Lối nói giảm dần:

voi –> trâu –> bò –> chuột
củ to –> củ nhỏ –> củ mẻ –> củ rím, củ hà.

– Cách nói đối lập, phủ định:

dẫn voi/ sợ quốc cấm

dẫn trâu/ sợ họ máu hàn

dẫn bò/ sợ họ co gân

dẫn lợn gà/ khoai lang

– Chi tiết hài hước, giàu liên tưởng:

“Miễn là có thú bốn chân
Dẫn con chuột béo, mời dân mời làng”

Giải câu 2 (Trang 91 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Các bài 2, 3, 4: Tiếng cười trong ba bài ca dao nay có gì khác với tiếng cười ở bài 1? Tác giả dân gian cười những con người nào trong xã hội? nhằm mục đích gì, với thái độ ra sao? Trong cái chung đó, mỗi bài lại có nét riêng thể hiện nghệ thuật trào lộng sắc sảo của người bình dân. Hãy phân tích làm rõ vẻ đẹp riêng của mỗi bài ca dao.

Trả lời:

So với tiếng cười trong bài 1, tiếng cười ở các bài 2, 3, 4 là tiếng cười đả kích, châm biến, phê phán xã hội. Nó hướng vào những thói hư tật xấu của một bộ phận trong nội bộ nhân dân.

– Bài 2. Chế giễu loại đàn ông yếu đuối, không đáng sức trai. Bài ca dao sử dụng biện pháp khoa trương, phóng đại cùng với thủ pháp đối lập đã tạo nên một tiếng cười hài hước, châm biếm. Tính hài hước là ở chỗ, bài ca dao xây dựng hình ảnh một chàng trai đang cố gắng hết sức (khom lưng chống gối) chỉ để “gánh hai hạt vừng”.

– Bài 3. Chế giễu loại đàn ông lười nhác. Không có chí lớn. Bài ca dao sử dụng biện pháp so sánh, nêu lên sự đối lập giữa “chồng người” với “chồng em”, làm cho người đàn ông được so sánh hiện lên buồn cười và thảm hại vô cùng. Hình ảnh người đàn ông “ngồi bếp sờ đuôi con mèo” là tiêu biểu cho loại đàn ông lười nhác, chỉ biết ngồi ở xó nhà, ăn bám vợ.

– Bài 4 là bài ca dao chế giễu loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên. Tiếng cười của bài ca dao lại một lần nữa chủ yếu được xây dựng dựa trên nghệ thuật phóng đại và những liên tưởng phong phú của tác giả dân gian. Đằng sau tiếng cười hài hước, giải trí, mua vui, tác giả dân gian vẫn muốn thể hiện một lời châm biếm nhẹ nhàng tới loại phụ nữ vô duyên đỏng đảnh – một loại người không phải không có trong xã hội.

Giải câu 3 (Trang 91 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Những biện pháp nghệ thuật nào thường được sử dụng trong ca dao hài hước?

Trả lời:

Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài hước:

Cường điệu phóng đại, tương phản đối lập.

Khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao.

Dùng ngôn ngữ đời thường nhưng thâm thúy và sâu sắc.

Có nhiều liên tưởng độc đáo, bất ngờ, lí thú.

Soạn phần luyện tập bài Ca dao hài hước

Giải câu 1 – Luyện tập (Trang 91 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Nêu cảm nghĩ về lời thách cưới của cô gái: Nhà em thách cưới một nhà khoai lang. Qua đó, anh (chị) thấy tiếng cười từ trào của người lao động trong cảnh nghèo đáng yêu, đáng trân trọng ở chỗ nào?

Trả lời:

Lời thách cưới của cô gái: “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang” là một lời ứng xử khôn khéo, thông minh. Như trên đã phân tích, cô gái không những không mặc cảm mà còn bằng lòng với cảnh nghèo, tỏ ra vui và thích thú trong lời thách cưới (dù chỉ là lời đối đáp nam nữ trong dân ca)

Lời thách cưới ấy là tiếng cười tự trào của người lao động. Nó tô đậm vẻ đẹp tâm hồn, sự vô tư, hồn nhiên và niềm lạc quan yêu đời của họ ngay trong cảnh nghèo nàn.

Giải câu 2 – Luyện tập (Trang 91 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Sưu tầm những bài ca dao hài hước phê phán thói lười nhác, le la ăn quà, nghiện ngập rượu chè; tệ nạng tảo hôn, đa thê, phê phán thầy bói, thầy cúng, thầy địa lí, thầy phù thuỷ trong xã hội cũ.

Trả lời:

Tham khảo một số bài ca dao hài hước phê phán dưới đây:

– Lấy chồng cho đỡ nắng mưa
Chẳng ngờ chồng lại ngủ trưa đến giờ.

– Gái sao chồng đánh chẳng chừa
Đi chợ vẫn giữ cùi dừa bánh đa.

– Bực mình chẳng muốn nói ra
Muốn đi ăn cỗ chẳng ma nào mời

– Anh đừng chê thiếp xấu xa,
Bởi chưng bác mẹ sinh ra thế này.
Anh ham xóc đĩa cò quay,
Máu mê cờ bạc, lại hay rượu chè.

– Lấy chồng từ thuở mời lăm
Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi.

– Sông bao nhiêu nước cũng vừa
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng lòng

– Thầy cúng ngồi cạnh giường thờ
Mồm thì lẩm bẩm tay sờ đĩa xôi.

Tham khảo thêm cách soạn khác bài Ca dao hài hước

Câu 1. Bài 1: Đây là lời đối đáp vui đùa của nam nữ thường thấy trong ca dao. Nó đem đến cho ta một tiếng cười mang ý nghĩ nhân sinh sâu sắc. Hãy đọc kĩ bài ca dao và cho biết:

– Việc dẫn cưới và thách cưới ở đây có gì khác thường? Cách nói của chàng trai và cô gái có gì đặc biệt? Từ đó, anh (chị) hãy nên cảm nhận của mình về tiếng cười của người lao động trong cảnh nghèo. (Đây là tiếng cười về điều gì, cười ai? Tiếng cười đó có ý nghĩa như thế nào?)

– Bài ca dao có giọng điệu hài hước dí dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tố nghệ thuật nào?

Trả lời:

– Việc dẫn cưới và thách cưới ở đây diễn ra không theo tục lệ, thông lệ thường thấy. Chàng trai dẫn cưới một con chuột béo, cô gái lại thách cưới một nhà khoai lang.

– Cô gái và chàng trai đều dùng cách nói dí dỏm, hài hước, biến cái vất vả, thiếu thốn về vật chất thành những lí do chính đáng.

– Tiếng cười của người lao động trong cảnh nghèo thể hiện tinh thần lạc quan, vượt lên trên những khó khăn của cuộc sống lao động.

– Giọng điệu hài hước, dí dỏm, đáng yêu của bài ca dao được tạo ra bởi những lời lẽ bông đùa nhưng rất hợp tình hợp lý, ngôn ngữ gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày.

Câu 2. Các bài 2, 3, 4: Tiếng cười trong ba bài ca dao nay có gì khác với tiếng cười ở bài 1? Tác giả dân gian cười những con người nào trong xã hội? nhằm mục đích gì, với thái độ ra sao? Trong cái chung đó, mỗi bài lại có nét riêng thể hiện nghệ thuật trào lộng sắc sảo của người bình dân. Hãy phân tích làm rõ vẻ đẹp riêng của mỗi bài ca dao.

Trả lời:

So với tiếng cười trong bài 1, tiếng cười ở các bài 2, 3, 4 là tiếng cười đả kích, châm biếm một bộ phận trong xã hội.

Bài 2. Chế giễu người đàn ông yếu đuối, không đáng sức trai. Bài ca dao sử dụng biện pháp khoa trương, phóng đại cùng với thủ pháp đối lập đã tạo nên một tiếng cười hài hước, châm biếm. Tính hài hước là ở chỗ, bài ca dao xây dựng hình ảnh đối lập giữa một bên là chàng trai có sức khỏe, mạnh mẽ nhưng lại phải cố gắng hết sức (khom lưng chống gối) chỉ để “gánh hai hạt vừng”.

Bài 3. Chế giễu loại đàn ông lười nhác, không có chí lớn. Bài ca dao sử dụng biện pháp so sánh, nêu lên sự đối lập giữa “chồng người” với “chồng em”, làm cho người đàn ông được so sánh hiện lên buồn cười. Hình ảnh người đàn ông “ngồi bếp sờ đuôi con mèo” là tiêu biểu cho loại đàn ông lười nhác, nhát gan, không có chí lớn, chỉ biết ngồi ở xó nhà, ăn bám vợ.

Bài 4 là bài ca dao chế giễu loại phụ nữ vô duyên. Tiếng cười của bài ca dao lại một lần nữa chủ yếu được xây dựng dựa trên nghệ thuật phóng đại và những liên tưởng phong phú của tác giả dân gian. Đằng sau tiếng cười hài hước, giải trí, mua vui, tác giả dân gian vẫn muốn thể hiện một lời châm biếm nhẹ nhàng.

Câu 3. Những biện pháp nghệ thuật nào thường được sử dụng trong ca dao hài hước?

Trả lời:

– Cường điệu phóng đại, tương phản đối lập.

– Khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao.

– Dùng ngôn ngữ đời thường nhưng thâm thúy và sâu sắc.

– Có nhiều liên tưởng độc đáo, bất ngờ, lí thú.

Soạn phần luyện tập bài Ca dao hài hước (trang 92 SGK ngữ văn 10 tập 1)

Câu 1. Nêu cảm nghĩ về lời thách cưới của cô gái: Nhà em thách cưới một nhà khoai lang. Qua đó, anh (chị) thấy tiếng cười từ trào của người lao động trong cảnh nghèo đáng yêu, đáng trân trọng ở chỗ nào?

Trả lời:

“Nhà em thách cưới một nhà khoai lang” là một lời ứng xử khôn khéo, thông minh. cô gái không những không mặc cảm mà còn bằng lòng với cảnh nghèo, tỏ ra vui và thích thú trong lời thách cưới.

Lời thách cưới ấy là tiếng cười tự trào của người lao động. Nó tô đậm vẻ đẹp tâm hồn, sự vô tư, hồn nhiên và niềm lạc quan yêu đời của họ ngay trong cảnh nghèo nàn.

Câu 2. Sưu tầm những bài ca dao hài hước phê phán thói lười nhác, le la ăn quà, nghiện ngập rượu chè; tệ nạng tảo hôn, đa thê, phê phán thầy bói, thầy cúng, thầy địa lí, thầy phù thuỷ trong xã hội cũ.

Trả lời:

Số cô không giàu thì nghèo,
Ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà.
Số cô có mẹ có cha
Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông.
Số cô có vợ có chồng
Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai.

Tiền buộc giải yếm bo bo
Trao cho thầy bói, đâm lo vào mình.
Chập chập rồi lại cheng cheng
Con gà trống thiến để riêng cho thầy.

Đơm xôi thì đơm cho đầy
Đơm vơi thì thánh nhà thầy mất thiêng.

Làm trai cho đáng nên trai
Vót đũa cho dài ăn vụng cơm con.
Chồng người đánh Bắc dẹp Đông
Chồng em ngồi bếp giương cung bắn gà.

(HTTPS://BAIVIET.ORG)

Ngọc Lan: Ngủ dậy muộn thì phí mất cả ngày, ở tuổi thanh niên mà không học tập thì phí mất cả cuộc đời .
Leave a Comment